BỔN ĐẦU ẤU

BỔN ĐẦU ẤU

BỔN ĐẦU ẤU

x

✠ DOCKINH.COM KÍNH CHÚC QUÝ ĐỘC GIẢ TRÀN ĐẦY  

ÂN SỦNG CHÚA, THOẢ THUÊ PHÚC LỘC NGƯỜI BAN 

Việt Nam
Cảm tạ
Giờ cầu nguyện | 301 lượt xem
Thời gian dự kiến:
BỔN ĐẦU ẤU

1. LỜI TỰA

Lời đầu: Sách Bổn đồng ấu (nhỏ và xưa, in quãng năm 1945) chứa đựng những giáo lý Công giáo rất căn bản (basic Catholic catechism) cần cho người Công giáo. Sách đã được dùng dạy đạo cho không biết bao nhiêu người trẻ thuộc địa phận Bùi chu, miền Bắc. Nhờ những kiến thức đơn giản này, họ xưng tội, Rước lễ, lãnh phép Thêm sức và sống đạo rất tốt lành, thời bình cũng như thời chiến. Ngày nay, sách không còn phổ biến, nhưng, nhớ lại kỷ niệm xưa, chúng tôi lưu trữ như một tài liệu qúy. Cám ơn M. Đoàn Hương đã đánh máy tập sách này.
Linh mục. Đoàn Quang, CMC. 2/2011 (xuanha.net)

ĐÔMINICÔ HỒ NGỌC CẨN
Giám mục


BỔN ĐỒNG ẤU
Giúp trẻ em
Dọn mình xưng tội
Rước lễ vỡ lòng


Imprimatur
Saigon, 12-5-1955
P. M. PHẠM NGỌC CHI
Giám Mục


TỰA
Trẻ em vừa có trí khôn chừng 7, 8 tuổi thì đã biết phân biệt lành dữ ít nhiều, cho nên nó cũng biết làm lành lánh dữ, nếu nó làm dữ, thì khốn cho nó là dường nào! Đức Chúa Trời là Đấng hay thương xót kẻ có tội, chẳng muốn cho nó phải chết mãi, thì lẽ nào Người đành để cho những lũ trẻ con ấy phải khốn nạn đời đời sao? Nhưng cho chúng được khỏi thì cần ta phải dạy bảo nó làm lành lánh dữ và biết những phương pháp giúp cho được lánh dữ làm lành.
Vì vậy những kẻ có phận sự lo cho các trẻ em nếu lấy làm thị thường mà để nó hư mất thì mình rỗi linh hồn được sao?  Kìa biết mấy đứa trẻ con nhà có đạo biết chửi bới người ta, biết gian tà trộm cắp, biết nói dối nói hành, biết nói thô tục…  Nhưng khốn thay!  Phạm tội đã hay mà xưng tội chưa biết!  Việc đời đã thông thạo, mà lẽ đạo còn u mê!  Những trẻ con thế ấy rồi chết mà mất linh hồn lỗi tại ai?
Vậy hỡi những kẻ làm mẹ làm cha hãy nhớ lời “tội gia qui trưởng”, hỡi những đấng chăn chiên chớ quên câu “Non pavisti occidisti”.("Nếu không cho kẻ nghèo đói ăn là ngươi giết chết nó. Lời thánh Ambrosiô)
Vì thương hại những lũ trẻ con ấy, có kẻ không lo dậy dỗ, có kẻ dậy dỗ không biết đàng. Điều cần kíp không dạy, lại dạy những điều cao quá, mình đã mất thì giờ nó lại còn ngu ngơ dốt nát.  Vì vậy nay Thầy dọn sách Bổn Đồng Ấu này để cho trẻ 7, 8 tuổi học trước khi xưng tội rước lễ vỡ lòng, trẻ nào chưa thuộc hoặc ít nữa là chưa biết những điều dạy trong sách bé mọn này, thì chưa đáng rước lễ.
Thầy buộc riêng cho các linh mục trong địa phận ta, từ rày phải dạy trẻ con học sách này trước khi xưng tội vỡ lòng, và mỗi năm ít là hai kỳ phải cứ theo sách này mà dạy trẻ con dọn mình xưng tội rước lễ vỡ lòng.  Khi các Thày dạy rồi mà trình cha để cho xưng tội, thì cha phải khảo lại từng trẻ hoặc có biết đủ điều chăng.  Nếu chưa biết đủ thì bảo thày dạy thêm đã.  Học sách này rồi sau thì mới học sách Thánh giáo Thuyết minh, để dọn mình rước lễ trọng thể (gọi là rước lễ bao đồng). 

       

2. THIÊN THỨ I MỘT CHÚA BA NGÔI

       

THIÊN THỨ I
MỘT CHÚA BA NGÔI


1. HỎI: Có mấy Đức Chúa Trời?
THƯA: Có một Đức Chúa Trời mà thôi.


2. H. Đức Chúa Trời có mấy ngôi?
T: Có ba ngôi:  Ngôi thứ nhất là Cha,
Ngôi thứ hai là Con,
Ngôi thứ ba là Thánh Thần.


3. H: Ngôi thứ Nhất có phải là Đức Chúa Trời chăng?
T: Phải.


4. H:  Ngôi thứ Hai có phải là Đức Chúa Trời chăng?
T: Phải.


5. H: Ngôi thứ Ba có phải là Đức Chúa Trời chăng?
T: Phải.


6. H: Vậy thì ba Đức Chúa Trời sao?
T: Không, vì Ba Ngôi cũng có một tính một phép, cho nên Ba Ngôi cũng là một Đức Chúa Trời mà thôi.


7. H: Ba Ngôi, Ngôi nào lớn hơn?
T: Ba Ngôi bằng nhau, không ngôi nào lớn hơn.


8. H: Vì sao Ba Ngôi cũng bằng nhau?
T: Vì Ba Ngôi cũng hằng có đời đời và cũng trọn tốt trọn lành vô cùng.


9. H: Đức Chúa Trời ở đâu?
T: Đức Chúa Trời ở khắp mọi nơi.


10. H: Đức Chúa Trời ở khắp mọi nơi sao ta không thấy?
T: Vì Người là tính thiêng liêng nên ta không thấy.


11. H: Ta không thấy Người mà Người thấy ta chăng?
T: Người thấy rõ ràng dù những sự kín trong lòng ta Người cũng thấy, cũng biết hết.


12. H: Ai dựng nên trời đất muôn vật?
T: Đức Chúa Trời đã dựng nên trời đất muôn vật.

 

3. THIÊN THỨ II THIÊN THẦN VÀ NGƯỜI TA


THIÊN THỨ II
THIÊN THẦN VÀ NGƯỜI TA


13. H: Trong các loài Chúa đã dựng nên thì loài nào trọng hơn?
T:  Loài Thiên Thần và loài người ta.


14. H: Thiên Thần là loài nào?
T: Thiên Thần là một loài thiêng liêng Chúa đã dựng nên để chầu chực phụng sự Người.


15. H: Các Thiên Thần bây giờ ở đâu?
T: Các Đấng ấy đang hưởng phúc trên Thiên đàng.


16. H:  Các Thiên Thần có được hưởng phúc Thiên đàng hết thảy chăng?
T: Chẳng được hết, vì có một phần nghe theo bè thần Luxiphe phạm tội kiêu ngạo, nên Đức Chúa Trời đã phạt xuống hỏa ngục.


17. H: Các thần ngụy ấy gọi là làm sao?
T: Gọi là ma quỉ.


18. H: Thiên thần có giúp người ta chăng?
T: Có, mỗi người có một Thiên thần giữ mình gọi là Thiên thần bản   mạnh.


19. H: Ma quỉ làm gì cho ta?
T: Nó chỉ cám dỗ ta phạm tội và muốn làm hại ta mà thôi.


20. H: Loài người ta là loài nào?
T: Loài người ta là loài có linh hồn và xác.


21. H: Linh hồn ta có phải chết chăng?
T: Linh hồn ta thiêng liêng chẳng hề chết được.


22. H: Tổ tông loài người ta là ai?
T: Tổ tông loài người ta là ông Adong và bà Evà.


23. H: Tổ tông ta đã phạm tội gì trước hết?
T: Phạm tội ăn quả Chúa cấm.


24. H: Tội ấy có truyền lại cho ta chăng?
T: Có, và ta gọi tội ấy là tội Tổ tông.

 

4. THIÊN THỨ III NGÔI THỨ HAI RA ĐỜI


THIÊN THỨ III
NGÔI THỨ HAI RA ĐỜI


25. H: Trong Ba Ngôi, có ngôi nào ra đời?
T: Ngôi thứ hai ra đời.


26. H: Ra đời nghĩa là làm sao?
T: Ra đời: nghĩa là Chúa mặc lấy tính loài người có linh hồn và xác như ta.


27. H: Vậy thì Ngôi thứ Hai ra đời có mấy tính?
T: Có hai tính, một là tính Đức Chúa Trời, hai là tính loài người ta.


28. H: Ngôi thứ Hai ra đời sinh ra bởi ai?
T: Bởi Đức Bà Maria đồng trinh.


29. H: Ngôi thứ Hai ra đời đặt tên là gì?
T: Đặt tên là Giêsu, nghĩa là Đấng Cứu Thế.


30. H: Ngôi thứ Hai ra đời làm gì?
T:  Ngôi thứ Hai ra đời mà chuộc tội cho thiên hạ.


31. H: Đức Chúa Giêsu làm gì mà chuộc tội cho thiên hạ?
T: Người chịu nạn chịu chết trên cây Thánh giá mà chuộc tội cho thiên hạ.


32. H: Người chết rồi có sống lại chăng?
T: Người chết rồi không đủ ba ngày thì Người sống lại. 


33. H: Bây giờ Đức Chúa Giêsu ở đâu?
T:  Người ở trên trời và trong phép Mình Thánh.


34. H: Đến sau Đức Chúa Giêsu có xuống thế nữa chăng?
T:  Đến ngày tận thế, thì Người lại xuống mà phán xét chung cả loài người ta.

 

5. THIÊN THỨ IV BỐN SỰ SAU


THIÊN THỨ IV
BỐN SỰ SAU


35. H: Bốn sự sau là những sự gì?     
T: Bốn sự sau là chết, sự phán xét, thiên đàng và hỏa ngục.


36. H: Ta có phải chết chăng?
T: Mọi người bất kỳ ai cũng phải chết một lần.


37. H: Khi ta chết thì linh hồn ta có chết chăng?
T: Khi ta chết thì xác chết mà thôi, linh hồn không chết được.


38. H: Vậy khi ấy linh hồn đi đâu?
T: Linh hồn đến trước tòa Đức Chúa Giêsu mà chịu phán xét.


39. H: Chúa phán xét về những sự gì?
T: Phán xét về mọi việc lành việc dữ ta đã lo, đã nói, đã làm.


40. H: Phán xét rồi linh hồn đi đâu?
T: Hoặc lên thiên đàng, hoặc xuống hỏa ngục hay là vào lửa luyện tội.


41. H: Ai được lên thiên đàng?
T: Những kẻ chẳng hề phạm tội gì trọng hay là đã phạm mà đã ăn năn cùng xưng tội nên.


42. H: Ai phải vào lửa luyện tội?
T: Những kẻ có tội nhẹ hay là đền vì tội chưa đủ.


43. H: Những kẻ ở trong luyện tội khi nào được lên Thiên đàng.
T: Khi đền tội đủ rồi thì Chúa cho lên Thiên đàng.


44. H: Những ai phải sa hỏa ngục?
T: Những kẻ chẳng thờ phượng Đức Chúa Trời và những người có đạo còn mắc tội trọng mà chết.


45. H: Kẻ ở trên thiên đàng có khi nào phải loại ra chăng?
T: Chẳng hề khi nào phải loại ra.


46. H: Những kẻ ở trong hỏa ngục có khi nào trông ra khỏi đấy chăng?
T: Phải ở đấy đời đời kiếp kiếp chẳng hề ra được. 


47. H: Vậy thì phải làm gì cho khỏi sa hỏa ngục?
T:  Phải giữ đạo Chúa cho nên và xa lánh mọi tội lỗi.


48. H: Tội là gì?
T: Tội là sự lỗi điều răn Đức Chúa Trời cùng lề luật Hội Thánh.


49. H: Tội trọng là gì?
T: Tội trọng là khi sai lỗi trong điều trọng.


50. H: Tội nhẹ là làm sao?
T: Tội nhẹ là khi sai lỗi trong điều nhẹ.

 

6. THIÊN THỨ V PHÉP RỬA TỘI và PHÉP GIẢI TỘI


THIÊN THỨ V
PHÉP RỬA TỘI và PHÉP GIẢI TỘI


51. H: Có mấy phép Bí tích?
T: Có bảy phép Bí tích:
1. phép Rửa tội,
2. phép Thêm sức,
3. phép Giải tội,
4. phép Mình Thánh Chúa,
5. phép xức dầu Thánh,
6. phép Truyền chức Thánh,
7. phép Hôn phối.


52. H: Phép Bí tích  nào Chúa lập để mà tha tội?
T: Phép Rửa tội và phép Giải tội.


53. H: Phép Rửa tội để tha tội nào?
T: Phép Rửa tội thường để tha tội Tổ tông.


54. H: Phép Giải tội để tha tội nào?
T: Phép Giải tội để tha những tội riêng ta đã phạm.


55. H: Phải làm gì cho được chịu phép Giải tội?
T: Phải đi xưng tội.


56. H: Trước khi vào Tòa xưng tội phải làm gì?
T: Phải xét mình cho rõ đã.


57. H: Xét mình nghĩa là làm sao?
T:  Xét mình nghĩa là nhớ lại cho biết bấy lâu mình đã phạm những tội gì.


58. H: Phải xét cách nào cho được nhớ lại những tội ấy?
T:  Phải xét theo mười điều răn Đức Chúa Trời cùng sáu luật điều Hội thánh và bảy mối tội đầu.


59. H: Có cách nào tiện hơn mà xét mình chăng?
T: Có bản xét mình, cứ theo đấy mà xét thì dễ hơn.


60. H: Trước khi xét mình phải làm gì?
T: Phải quì gối đọc ít kinh, xin Chúa cùng Đức Mẹ soi sáng giúp sức cho ta được xét mình, ăn năn cùng xưng tội cho nên.


61. H: Xét mình rõ rồi thì phải làm gì?
T: Phải giục lòng ăn năn tội.


62. H: Ăn năn tội là làm sao?
T: Là thật lòng lo buồn trách mình vì đã phạm tội mất lòng Chúa và dốc lòng chừa cải.


63. H: Dốc lòng chừa cải là làm sao?
T: Là quyết chí từ nay về sau không còn dám phạm tội nữa.


64. H: Khi đã ăn năn tội cùng dốc lòng rồi thì làm sao?
T: Đọc kinh cáo mình, rồi vào tòa mà xưng tội. 


KINH CÁO MÌNH (mới)
Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng và cùng anh chị em. Tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót: lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.
Vì vậy tôi xin Đức Bà Maria trọn đời đồng trinh, các thiên thần, các thánh và anh chị em, khẩn cầu cho tôi trước toà Thiên Chúa, Chúa chúng ta.


65. H: Vào trong tòa trước hết phải làm gì?
T: Trước hết nói rằng:
Thưa Cha, con là kẻ có tội, xin cha làm phép giải tội cho con:


66. H: Khi đã làm như vậy rồi, thì làm gì?
T: Quì thẳng lên hay đứng mà xưng tội.


67. H: Phải xưng tội làm sao?
T: Phải xưng cho rõ ràng, ngay thật.


68. H: Xưng cho ngay thật là làm sao?
T: Là phải xưng hết các tội mình đã xét, chớ dấu tội nào.


69. H: Kẻ có ý giấu một tội thì sao?
T: Nếu giấu một tội trọng, thì là phạm sự thánh.


70. H: Phạm sự thánh là tội làm sao?
T: Là tội rất nặng nề vì đã làm hư phép Bí Tích.


71. H: Các tội xưng lần ấy thì làm sao?
T: Các tội ấy chẳng được tha, cho nên sau phải xưng lại.


72. H: Khi đã xưng tội xong thì làm gì?
T: Phải thưa rằng:  Thưa cha, ấy là bấy nhiêu, đoạn cứ nghe cha răn bảo.


73. H: Cha răn bảo rồi, thì làm gì?
T: Cha răn bảo rồi thì cúi mình xuống đọc kinh ăn năn tội mà chịu phép Giải tội.


74. H: Đọc kinh ăn năn tội rồi thì làm gì?
T: Quỳ lên nghe Cha bảo, nếu cha không bảo gì nữa thì chào cha mà ra.


75. H: Ra ngoài tòa rồi thì làm gì?
T:  Phải đọc kinh đền tội.


76. H: Nếu việc đền tội không làm được bấy giờ thì sao?
T: Phải làm theo như ý cha giải tội chỉ.

 

7. THIÊN THỨ VI PHÉP MÌNH THÁNH CHÚA


THIÊN THỨ VI
PHÉP MÌNH THÁNH CHÚA


77. H: Phép Mình Thánh là gì?
T: Là phép Mình Thánh, Máu Thánh cùng linh hồn Đức Chúa Giêsu và tính Đức Chúa Trời ở trong hình bánh hình rượu.


78. H: Vậy khi rước lễ thì rước gì?
T: Rước Đức Chúa Giêsu vốn tính Đức Chúa Trời cùng tính loài người ta.


79. H: Có rước bánh chăng?
T: Không, vì bánh đã trở nên Mình Thánh, Máu Thánh Đức Chúa Giêsu rồi.


80. H: Vậy thì cái gì tròn ta xem thấy đấy?
T: Đấy là hình dạng bánh bề ngoài mà thôi, chứ bánh thì không còn nữa.


81. H: Ai muốn rước lễ thì phải làm sao?
T: Phải dọn linh hồn và xác.


82. H: Dọn linh hồn là làm sao?
T: Là phải cho sạch các tội trọng.


83. H: Kẻ biết mình còn mắc tội trọng mà đi rước lễ thì sao?
T: Kẻ ấy phạm tội rất nặng vì là phạm sự thánh.


84. H: Dọn xác là làm sao?
T: Là phải giữ lòng chay: kiêng ăn một giờ trước khi rước lễ, trừ ra nước lã.


85. H: Còn phải dọn mình thế nào nữa không?
T: Còn phải cầm lòng cầm trí đọc kinh dọn mình trước khi vào rước lễ.


86. H: Khi vào rước lễ thì làm sao?
T: Phải đi nghiêm trang nết na, khi quỳ khi ra cũng vậy.


87. H: Khi rước lễ ra thì làm gì?
T: Phải cầm lòng cầm trí mà cám ơn đừng trông ngang trông ngửa.


88. H: Trong lúc cám ơn phải làm gì?
T: Phải làm ba sự này:
1. tạ ơn Chúa đã ngự vào lòng con,
2. phó dâng linh hồn và xác cho Chúa,
3. cầu khẩn cùng Chúa ban ơn giúp sức cho con về phần linh hồn và phần xác nữa.


89. H: Phải cầu nguyện cho kẻ khác chăng?
T: Cũng phải cầu cho cha mẹ, bà con, cho Hội thánh, cho Địa phận, cùng cho mọi kẻ sống và kẻ chết.


90. H: Có nên rước lễ nhiều ngày chăng?
T: Nên lắm, miễn là dọn mình cho hẳn hoi như đã dạy.

 

8. THIÊN THỨ VII PHÉP THÊM SỨC


THIÊN THỨ VII
PHÉP THÊM SỨC

(Trẻ em dọn mình chịu phép Thêm sức phải học thiên này)


91. H: Phép Thêm sức là phép nào?
T: Là phép Đức Chúa Giêsu đã lập cho ta được chịu Đức Chúa Thánh Thần và được đầy dẫy mọi ơn Người cho mạnh đạo.


92. H: Kẻ chịu phép Thêm sức thì được những ơn gì?
T: Được bảy ơn trọng này, quen gọi là bảy ơn Đức Chúa Thánh Thần.


93. H: Ơn thứ nhất là làm sao?
T: Ơn thứ nhất là ơn khôn ngoan, làm cho ta bỏ mọi sự thế gian mà yêu mến một Đức Chúa Trời.


94. H: Ơn thứ hai là làm sao?
T: Ơn thứ hai là ơn thông minh, làm cho ta dễ hiểu sự mầu nhiệm đạo thánh Chúa.


95. H: Ơn thứ ba là làm sao?
T: Ơn thứ ba là ơn biết lo liệu, chọn sự lành, lánh sự dữ.


96. H: Ơn thứ bốn là làm sao?
T: Ơn thứ bốn là ơn sức mạnh, làm cho sẵn lòng chịu khó cho được rỗi linh hồn.


97.H: Ơn thứ năm là làm sao?
T: Ơn thứ năm là ơn hay suy biết mà dùng sự đời này cho nên.


98. H: Ơn thứ sáu là làm sao?
T: Ơn thứ sáu là ơn nhân đức, làm cho ta hứng vui yêu thích việc thờ phượng Chúa.


99. H: Ơn thứ bảy là làm sao?
T: Ơn thứ bảy là ơn kính sợ Đức Chúa Trời làm cho ta xa lánh những sự mất lòng Chúa.


100. H: Ai muốn chịu phép Thêm sức thì phải làm sao?
T: Trước hết phải học cho biết những điều chính phải tin trong đạo.


101. H: Phải dọn mình làm sao?
T: Phải cho sạch mọi tội trọng, vậy nếu biết mình còn có tội trọng thì phải đi xưng tội đã.


102. H: Phải có kẻ cầm đầu chăng?
T: Phải có kẻ cầm đầu như khi chịu phép Rửa tội.


103. H:  Được chịu phép thêm sức mấy lần?
T: Được một lần mà thôi cũng như phép Rửa tội.

 

9. THIÊN THỨ VIII PHẬN SỰ CỦA NGƯỜI GIÁO HỮU


THIÊN THỨ VIII
PHẬN SỰ CỦA NGƯỜI GIÁO HỮU


104. H: Người giáo hữu phải làm gì?
T: Phải thờ phượng Chúa và vâng giữ điều răn Người cho trọn.


105. H: Phải giữ điều răn nào nữa chăng?
T: Phải giữ sáu điều răn Hội Thánh nữa.


106. H: Hằng ngày phải làm gì?
T: Hằng ngày sáng tối phải đọc kinh thờ phượng Chúa và cầu nguyện cùng Chúa ban ơn cho ta.


107. H: Phải kính mến Đức Bà chăng?
T: Phải kính mến Đức Bà, vì là Mẹ hay thương giúp chúng ta.


108. H: Phải kính các Thánh chăng?
T: Cũng phải kính các Thánh nhất là Thánh quan thày ta.


109. H: Mỗi tuần phải nhớ gì?
T: Phải nhớ ngày Chúa nhật đi xem lễ và kiêng việc xác.


110. H: Có buộc đi xem lễ ngày thường chăng?
T: Vốn chẳng buộc, song người giáo hữu hẳn hoi, thì cũng siêng năng xem lễ ngày thường.


111. H: Trong tuần còn phải có nhớ gì nữa chăng?
T: Phải nhớ ngày thứ sáu mà kiêng thịt. (Ngày nay cứ theo sự chỉ dẫn của mỗi giáo phận)


112. H: Hằng năm phải làm gì?
T:  Phải xưng tội rước lễ ít là một lần trong mùa Phục sinh.

 

22:23